Lưu trữ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Picyome_555dc38b93f0a.jpg Picyome_555dc38b93f0a.jpg La_balada_de_Ho_Chi_Minh_espaol.flv A_Ballad_of_Ho_Chi_Minh__Japan_Version__Tomoya_Takaishi_.flv Ho_Chi_Minh_Dep_Nhat_Ten_Nguoi__Quoc_Huong.mp3 BaiCaHoChiMinhQuangHung_4wzx.mp3 Anh_phong_may.swf Cap_II_8.jpg Cap_II_12.jpg Cap_II_9.jpg Cap_II_6.jpg Cap_II_5.jpg Cap_II_4.jpg Cap_II_3.jpg Cap_II_2.jpg Cap_II_1.jpg 0.Bai_hat_ca_ngoi_Bac_cua_nhac_si_nguoi_Anh.flv ChuyenhoaTigon_NhuQuynh.mp3 Motbuoisinhhoatchuyenmon.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với Trường THCS Gia Phong - Gia Viễn - Ninh Bình.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    danh nhân Hà Nội

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Đoàn Thị Kim Hồng
    Ngày gửi: 12h:25' 19-01-2015
    Dung lượng: 102.5 KB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    
    
    
    
    
    
    
    
    
    
    


    

    http://www.hanoi.gov.vn/hanoiwebs1/vn/gioithieuchunghanoi/group2/page2_5.htm 
    DANH NHÂN HÀ NỘI
     
     
    1. Phạm Tu (486-545)
     
    Phạm Tu sinh ra ở làng Quang Liệt (nay là Thanh Liệt – Thanh Trì). Ông là vị tướng tài có công bậc nhất trong việc giúp Lý Bí đuổi giặc Lương, lập nhà nước Vạn Xuân vào thế kỷ thứ 6.
     Phạm Tu là một đô vật giỏi. Năm 541, bất bình trước ách thống trị tàn ác của nhà Lương, ông đã tập hợp trai làng chống lại. Năm sau, Lý Bí dựng cờ khởi nghĩa, ông đem quân gia nhập ngay và đi tiên phong đánh thành Long Biên, trị sở của bọn đô hộ. Tên thứ sử tham bạo phải xéo chạy. Đất nước giải phóng, ông xây lũy bên sông Tô để phòng vệ. Nhà Lương hai lần phản kích đều bị ông chặn đánh từ biên ải.
    Tháng Giêng năm 544, Lý Bí lên ngôi, Phạm Tu được cử thống lĩnh binh quyền, dẹp các cát cứ địa phương, nên được vua ban tước Phụ Man tướng quân. Bởi vậy nhân dân còn gọi ông là Lý Phục Man. Trong lần quân Lương sang xâm lược lần thứ ba, ông hy sinh anh dũng trong một trận đánh ác liệt ở ngay cạnh dòng sông Tô quê hương.
    Các triều sau sắc phong ông là Hộ quốc tế dân, Anh uy vĩ độ (có nghĩa là "Giúp nước cứu dân, anh hùng hào kiệt").
     
    2. Lý Thường Kiệt (1019-1105)
     
    Tên thật là Ngô Tuấn, sinh ở làng An Xá (hay còn gọi là làng Cơ Xá bên sông Hồng) sau về ở phường Thái Hòa (gần Hồ Tây). Ông là con một vị võ quan nhỏ đời Lý Thái Tông. Ông mồ côi cha từ năm 13 tuổi, được chồng cô nuôi ăn học. Ông miệt mài theo đuổi cả văn lẫn võ, tinh thông binh pháp. Năm 23 tuổi ông đã là thị vệ theo hầu vua, trông coi nội đình. Năm 1069 ông theo Lý Thánh Tông đi dẹp Chiêm Thành. Ông đã lập nhiều công lớn  nên được phong  làm Phụ quốc thái úy tước Khai quốc công và được vua ban cho họ Lý nên mới thành tên Lý Thường Kiệt.
    Năm 1072 Lý Nhân Tông nối ngôi khi còn nhỏ tuổi nên Hoàng Thái hậu Ỷ Lan phải ra nhiếp chính. Lý Thường Kiệt nắm giữ binh quyền và là trụ cột của triều nhà Lý trong hàng chục năm.
    Năm 1075, trước âm mưu xâm lược của giặc Tống, ông chủ trương tấn công trước vào tận sào huyệt của chúng ở Châu Ung, rồi rút về xây dựng phòng tuyến sông Cầu để cản giặc. Năm 1077 ông lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống trên sông Cầu. Ông đã viết bài thơ “Nam quốc sơn hà” để cổ vũ quân ta anh dũng xông lên phá tan 30 vạn quân địch do Quách Quỳ, Triệu Tiết cầm đầu và cũng là để khẳng định quyền độc lập thiêng liêng bất khả xâm phạm của Tổ quốc.
    Sau khi phá tan giặc Tống vua Lý Nhân Tông nhận ông là em nuôi. Ông đựoc phong tước Việt Quốc Công và được cử đi trông coi vùng châu Ái (Thanh Hóa).  http://www.hanoi.gov.vn/hanoiwebs1/vn/gioithieuchunghanoi/group2/page2_5.htm
    3. Ỷ Lan (?-1117)
     
    Ỷ Lan tên thật là Lê Thị Yên (hoặc Lê Thị Mệnh), người làng Thổ Lỗi (hay còn gọi là làng Sủi) sau là làng Siêu Loại (xã Dương Xá, huyện Gia Lâm). Nhà nghèo, mẹ mất sớm, bố lấy vợ bé, Ỷ Lan phải hái dâu chăn tằm, thân phận khổ như cô Tấm trong truyện cổ tích.
    Một lần, vua Lý Thánh Tông về chùa Dâu cầu tự, gặp cô đang hái dâu. Vua hỏi chuyện thấy Ỷ Lan đối đáp thông minh nên đưa về triều và phong làm Nguyên phi. Ỷ Lan là người ham học hỏi, có tài quản lý nội chính trong cung. Vua đi đánh Chiêm thành giao lại quyền nhiếp chính cho bà. Gặp năm mất mùa, đói kém, nhưng nhờ kế sách trị nước đúng đắn bà đã làm yên lòng dân. Nhớ ơn bà, nhiều nơi lập đền thờ sống và gọi bà là Quan Âm nữ. Vua đánh lâu không thắng, giao cho Lý Thường Kiệt chỉ huy, quay về đến nửa đường nghe tin Ỷ Lan giữ vững yên hậu phương, vua hổ thẹn trở lại chiến trường và quyết đánh thắng giặc mới về. Vua mất, bà là Hoàng thái hậu nhiếp chính, cùng Lý Thường Kiệt – tể tướng Đại Việt đánh thắng quân xâm lược Tống năm 1077.
    Bà khuyến khích nghề nông, mở mang đạo Phật, được dân tin yêu, cảm phục, nổi danh là bà thái hậu hiền thục trong sử sách. Bà thọ
     
    Gửi ý kiến